![]()
📌 Nguồn: Hội Nhãn Khoa Việt Nam — Đồng Thuận Quốc Gia về Quản Lý Cận Thị
📊 Tóm tắt 20 điểm đồng thuận
Nhóm 1: Chẩn Đoán & Phân Loại Cận Thị
Độ khúc xạ cầu tương đương (SE) từ -0,50D trở lên dưới tác dụng của thuốc liệt điều tiết là tiêu chuẩn chẩn đoán cận thị ở trẻ em và thanh thiếu niên được đánh giá tật khúc xạ.
Phân loại mức độ cận thị nên tuân theo các hạng mục tiêu chuẩn hóa:
- Cận thị nhẹ: SE từ -0,50D đến dưới -3,00D
- Cận thị trung bình: SE từ -3,00D đến dưới -6,00D
- Cận thị nặng (bệnh lý): SE từ -6,00D trở lên
Phân loại này cải thiện độ chính xác chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị và giao tiếp lâm sàng.
Tiền cận thị nên được định nghĩa chuẩn hóa theo giá trị cầu tương đương theo từng độ tuổi:
- Trẻ 6 tuổi trở xuống: SE từ +0,75D đến nhẹ hơn -0,50D
- Trẻ 7 đến 9 tuổi: SE từ +0,50D đến nhẹ hơn -0,50D
- Trẻ 10 đến dưới 12 tuổi: SE từ +0,25D đến nhẹ hơn -0,50D
Trẻ em mắc cận thị ở độ tuổi nhỏ (trước 9 tuổi) có nguy cơ cao tiến triển thành cận thị nặng — cần ưu tiên cho các can thiệp kiểm soát cận thị tích cực.
Nhóm 2: Cận Thị Tiến Triển & Điều Trị Atropine
Cận thị tiến triển được định nghĩa là khi:
- Cầu tương đương tăng ≥ 0,50D mỗi năm, hoặc
- Chiều dài trục nhãn cầu tăng ≥ 0,20mm mỗi năm
Cận thị tiến triển nhanh khi cầu tương đương tăng ≥ 0,75D/năm hoặc chiều dài trục nhãn cầu tăng ≥ 0,30mm/năm — cần can thiệp kiểm soát tích cực.
Dung dịch nhỏ mắt atropine nồng độ thấp (0,01%, 0,025%, hoặc 0,05%) nên được cân nhắc là giải pháp dùng thuốc đầu tay cho điều trị kiểm soát cận thị ở trẻ em 6–15 tuổi.
Nồng độ lựa chọn nên là 0,025% hoặc 0,05% dựa trên đánh giá ban đầu.
Ở trẻ em mắc cận thị nặng, atropine 0,05% có hiệu quả kiểm soát cận thị tốt hơn đáng kể so với atropine 0,01%, với tác dụng phụ (sợ ánh sáng và nhìn gần mờ) có thể chấp nhận được.
Đối với trẻ em không đáp ứng với atropine 0,01% sau ít nhất 6 tháng điều trị, việc tăng lên nồng độ cao hơn (atropine 0,025% hoặc 0,05%) mang lại hiệu quả kiểm soát cận thị tốt hơn so với tiếp tục nồng độ thấp.
Ở trẻ em đang được điều trị atropine trong 2 năm, việc ngừng điều trị atropine đột ngột liên quan đến nguy cơ đáng kể với phản ứng dội làm tăng nhanh chiều dài trục nhãn cầu và cầu tương đương, đặc biệt ở nồng độ cao hơn.
Nhóm 3: Ortho-K & Tròng Kính Kiểm Soát Cận Thị
Ở trẻ em độ tuổi học đường mắc cận thị, việc sử dụng tròng kính kiểm soát cận thị (như HALT, CARE, DIMS) nên được xem xét, vì những tròng kính này hiệu quả hơn tròng kính đơn tiêu trong việc làm giảm cả tăng chiều dài trục nhãn cầu và tiến triển độ khúc xạ.
Ở trẻ em mắc cận thị tiến triển, kính tiếp xúc chỉnh hình giác mạc (Orthokeratology / Ortho-K) có hiệu quả tốt hơn so với kính gọng đơn tiêu trong việc làm chậm sự kéo dài trục nhãn cầu và kiểm soát tiến triển cận thị.
Ở trẻ em mắc cận thị, kết hợp dung dịch nhỏ mắt atropine nồng độ thấp với kính tiếp xúc chỉnh hình giác mạc (Ortho-K) hoặc tròng kính kiểm soát cận thị (HALT, CARE, DIMS) dẫn đến tác dụng hiệp đồng trong kiểm soát cận thị, cung cấp kết quả tốt hơn so với đơn trị liệu.
Nhóm 4: Lối Sống, Ánh Sáng & Phòng Ngừa
Ở trẻ em độ tuổi học đường, tham gia hoạt động ngoài trời ít nhất 2 giờ mỗi ngày làm giảm đáng kể nguy cơ khởi phát cận thị so với những trẻ có hoạt động ngoài trời ít hơn.
Ở trẻ em dưới 12 tuổi, việc hạn chế thời gian sử dụng màn hình xuống dưới 2 giờ mỗi ngày làm giảm đáng kể tỷ lệ cận thị mới khởi phát và làm chậm tốc độ tiến triển ở trẻ đã mắc cận thị so với việc sử dụng màn hình không hạn chế thời gian.
Ở trẻ em mắc cận thị, liệu pháp ánh sáng đỏ cường độ thấp lặp lại (650nm, hai lần mỗi ngày) giúp kiểm soát tốc độ tăng chiều dài trục nhãn cầu một cách hiệu quả so với kính gọng đơn tiêu hoặc điều chỉnh hành vi đơn thuần.
Tuy nhiên, các nhà lâm sàng cần lưu ý quy trình giám sát an toàn trong quá trình điều trị.
Nhóm 5: Theo Dõi, Đánh Giá & An Toàn Điều Trị
Trong việc tiến hành thử nghiệm lâm sàng và giám sát hiệu quả điều trị kiểm soát cận thị ở trẻ em, chiều dài trục nhãn cầu nên được ưu tiên làm tiêu chí đánh giá chính so với cầu tương đương (SE), vì chiều dài trục nhãn cầu cung cấp dữ liệu khách quan và đáng tin cậy hơn.
Trẻ em được điều trị kiểm soát cận thị cần được giám sát thường xuyên các tác dụng phụ tiềm tàng, bao gồm kích thước đồng tử, chức năng điều tiết và tình trạng bề mặt nhãn cầu, mỗi 3–6 tháng.
Nhóm 6: Đào Tạo, Sàng Lọc Học Đường & Công Nghệ
Đối với trẻ em được quản lý cận thị, các bác sĩ nhãn khoa và cử nhân khúc xạ nhãn khoa khi thực hành lâm sàng nên được đào tạo chuyên môn trong các quy trình kiểm soát cận thị để cải thiện kết quả lâm sàng và an toàn của quản lý cận thị.
Sàng lọc tại trường học có thể góp phần cải thiện phát hiện cận thị và tạo thuận lợi cho việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc mắt bên cạnh sàng lọc tại phòng khám.
Ở trẻ em được kiểm soát cận thị, việc sử dụng các công cụ dựa trên AI và ứng dụng di động (để giám sát chiều dài trục nhãn cầu và tật khúc xạ) giúp cải thiện độ chính xác, hiệu quả và tuân thủ điều trị so với các phương pháp theo dõi thủ công truyền thống.
Áp Dụng Đồng Thuận Vào
Thực Hành Lâm Sàng
Phòng khám mắt BS.CKII Đinh Lâm Phương ứng dụng các phác đồ cập nhật nhất trong kiểm soát cận thị cho trẻ em tại Cần Thơ. Đặt lịch để được tư vấn và đánh giá phù hợp cho con bạn.





